ThinhLoc.comThịnh Lộc
Chợ, phố nghề và thương nhân Việt xưa

Chợ làng Việt xưa: lệ chợ, chỗ ngồi, tiền chợ và phép mua bán của người quê

Chợ làng xưa đặt ở đâu, ai giữ chợ, tiền chỗ ngồi thu thế nào, cân đong ra sao và những lệ bất thành văn của người bán, người mua ở chợ quê Việt Nam.

Early morning village market under a huge banyan tree beside an old communal house in the Red River Delta, women in conical hats unpacking baskets of greens, seen from a distance

Chợ làng xưa là nơi người quê trao đổi nông sản, hàng thủ công và tin tức, thường họp ở bãi đất đầu làng, cạnh đình, gốc đa hay bến sông; chợ do làng quản, người bán nộp một khoản nhỏ cho chỗ ngồi, và mọi việc chạy theo những lệ bất thành văn mà ai đi chợ lâu cũng thuộc. Người bán ngồi theo dãy mặt hàng, người quen giữ chỗ quen, cân đong theo đơn vị của vùng, và ai gian lận thì cả chợ biết.

Bài này đi qua chợ làng từ góc người buôn bán: chợ đặt ở đâu và vì sao, lệ chỗ ngồi, chuyện tiền chợ, các đơn vị đo lường cũ, vai trò của phụ nữ, và những gì của chợ làng còn đáng giữ khi chợ đã thành nhà lồng bê tông. Các chi tiết lấy từ những mô tả phổ biến về làng xã Bắc Bộ và Nam Bộ; mỗi vùng, mỗi làng có lệ riêng nên bạn coi đây là bức tranh chung, không phải quy định cứng.

Chợ làng đặt ở đâu và vì sao đặt ở đó

Người xưa có câu “nhất cận thị, nhị cận giang”: nhà gần chợ là thứ nhất, gần sông là thứ nhì. Câu ấy cho thấy chợ quan trọng thế nào với đời sống làng. Chợ làng hiếm khi nằm giữa xóm mà thường ở chỗ giao nhau: đầu làng nơi đường cái chạy qua, ngã ba giữa hai ba làng, bến đò nơi thuyền ghé, hoặc khoảng sân rộng trước đình. Đặt như vậy để người làng bên cũng đến được, và để hàng chở bằng thuyền, bằng gánh dễ vào ra.

Một chợ quê điển hình có vài dãy lều quán lợp tranh hoặc lá, cột tre, nền đất nện. Ngoài giờ chợ, lều bỏ trống, trẻ con chơi đùa, người đi đường nghỉ chân. Gốc đa đầu chợ vừa là chỗ hóng mát, vừa là mốc hẹn. Nhiều làng có đình và chợ đứng sát nhau, nên đi lễ đình và đi chợ thường là một chuyến.

Vị trí chợ còn liên quan đến lợi ích của làng. Làng có chợ đông thì người làng bán được nông sản tại chỗ, thợ thủ công có nơi bán hàng, và làng có một khoản thu chung. Vì vậy việc mở chợ, dời chợ, đổi ngày họp từng là chuyện lớn cần các bô lão bàn bạc, và theo nhiều câu chuyện được kể lại, có khi gây va chạm giữa các làng lân cận khi hai chợ tranh nhau người bán.

Nhìn từ hôm nay, logic chọn chỗ của chợ làng không khác mấy logic chọn mặt bằng của một cửa hàng: ở chỗ đông người qua, dễ đến, có chỗ để hàng, có điểm nhận diện. Điều khác là chợ làng là tài sản chung, còn cửa hàng là của riêng.

Lệ chợ: những điều người đi chợ ngầm hiểu

Ngồi theo dãy hàng. Rau một dãy, cá tôm một dãy, thịt một góc, hàng xén (kim chỉ, gương lược, thuốc lào) một dãy, hàng ăn ở rìa. Xếp như vậy cho người mua dễ tìm và cho hàng tanh, hàng ướt không lẫn vào hàng khô. Người mới đến bán phải hỏi chỗ chứ không tự chọn.

Chỗ quen là của người quen. Người bán lâu năm có chỗ ngồi gần như cố định. Không ai giấy tờ gì, nhưng cả chợ đều công nhận. Ngồi vào chỗ của người khác, dù họ vắng một phiên, là chuyện dễ sinh lời qua tiếng lại.

Không giành khách của sạp bên. Khách đang đứng hỏi hàng sạp bên cạnh thì không gọi kéo sang. Lệ này giữ hoà khí giữa những người ngồi cạnh nhau suốt nhiều năm, vì ở chợ làng, hàng xóm chỗ ngồi cũng là hàng xóm trong làng.

Cân đủ, đong đầy. Cân điêu, đong vơi bị cả chợ biết rất nhanh, vì người mua là người cùng làng, có gì cũng đem ra nói ở giếng, ở đình. Tiếng xấu ở chợ làng khó gột, nên giữ cân đủ cũng là giữ chỗ đứng lâu dài.

Tan chợ thì dọn. Hết buổi, người bán dọn lá, rác quanh chỗ mình. Nhiều làng còn quy định ai dọn bãi chợ sau phiên, vì bãi chợ cũng là sân chung của làng.

Chợ chiều bán hạ giá. Gần tan chợ, hàng tươi được bán rẻ cho kịp hết. Người mua biết điều đó và người bán cũng không coi là thiệt, vì mang rau cá về là hỏng. Cụm từ “chợ chiều” về sau còn được dùng ví những gì đã qua thời đông vui.

Tiền chợ và người giữ chợ

Chợ làng không miễn phí. Theo nhiều mô tả về làng xã Việt Nam xưa, người đến bán thường phải nộp một khoản nhỏ cho chỗ ngồi, có nơi tính theo gánh, theo mẹt hàng, có nơi tính theo con vật mang ra bán. Khoản thu này về quỹ chung của làng, dùng vào những việc như tu sửa đình, sửa đường, lo việc tế lễ. Ở nhiều nơi, làng giao việc thu cho một người nhận khoán: người này nộp cho làng một khoản cố định, còn thu được bao nhiêu từ người bán là phần của họ.

Cách khoán này tiện cho làng nhưng cũng dễ sinh chuyện. Người nhận khoán muốn thu nhiều, người bán muốn nộp ít, người làng mình đòi được ưu tiên hơn người làng ngoài. Những va chạm quanh tiền chợ là đề tài quen trong văn chương viết về nông thôn trước năm 1945, phản ánh một thực tế: chợ là nơi có tiền, mà nơi có tiền thì cần lệ rõ ràng.

Bên cạnh tiền chỗ ngồi, chợ còn có người trông coi trật tự, phân xử khi có cãi vã về chỗ ngồi hay cân đong. Ở chợ làng, vai trò này thường do người có uy tín trong làng đảm nhận, và lời phân xử dựa vào lệ quen nhiều hơn vào văn bản.

Ngày nay, chợ truyền thống thuộc sự quản lý của ban quản lý chợ hoặc đơn vị được giao kinh doanh, khai thác chợ, với nội quy và mức thu theo quy định của địa phương. Nếu bạn là tiểu thương đang thuê sạp, nguyên tắc vẫn giống xưa: hỏi rõ khoản nào phải nộp, nộp cho ai, có biên nhận không, và đọc kỹ nội quy chợ trước khi ký. Mức thu cụ thể thì hỏi ban quản lý nơi bạn bán, vì mỗi chợ một khác.

Đo lường ở chợ xưa: cân ta, đấu, quan tiền

Trước khi hệ mét phổ biến, chợ quê dùng nhiều đơn vị truyền thống. Giá trị cụ thể của một số đơn vị đổi theo thời kỳ và theo vùng, nên bảng dưới chỉ ghi điều được nhắc phổ biến và cách người buôn bán dùng chúng.

Đơn vịDùng choĐiều nên biết
Cân ta, lạngThịt, cá, chè, thuốc, hàng khôMột cân ta bằng mười sáu lạng, nên mới có câu “kẻ tám lạng, người nửa cân” để nói hai bên ngang nhau
Đấu, thưng, bátThóc, gạo, đậu, vừngĐong bằng dụng cụ có dung tích quy ước; dung tích có thể khác giữa các vùng, nên người buôn xa phải hỏi lại
Thước, sảiVải, dây, chiếuThước của thợ may, thợ mộc không hẳn bằng nhau; người bán vải đo bằng thước gỗ của mình
Mớ, bó, chụcRau, hoa, trái câyĐếm theo thói quen; ở nhiều nơi miền Nam, một “chục” trái cây có thể nhiều hơn mười quả, tuỳ lệ địa phương
Quan, tiền, đồngTiền tệMột quan bằng mười tiền; tiền đồng, tiền kẽm xâu thành chuỗi có lỗ vuông ở giữa

Sự đa dạng đơn vị khiến chợ xưa dễ sinh chuyện “đong vơi”, “cân thiếu”. Câu “buôn gian bán lận” ra đời từ thực tế đó. Người mua quen chợ thường tự mang theo kinh nghiệm: nhìn mặt cân, nhìn đáy đấu, hỏi lại “chục mấy quả”. Người bán giữ được tiếng “cân đủ” là có khách quen bền nhất.

Ngày nay cân phải được kiểm định theo quy định đo lường hiện hành, và nhiều chợ đặt cân đối chứng để người mua tự kiểm. Tiểu thương nên giữ cân sạch, đặt ở chỗ khách nhìn thấy mặt số, vì một cái cân rõ ràng là lời chào tốt nhất.

Phụ nữ và chợ quê

Đi chợ quê xưa, người ta thấy phần lớn người bán là phụ nữ. Họ gánh rau, gánh gạo, đội thúng, bê mẹt đi bộ nhiều cây số từ sáng tinh mơ. Cụm “buôn thúng bán mẹt” chỉ chính lối buôn nhỏ ấy: vốn ít, hàng ít, lãi ít, nhưng đều đặn đủ chi tiêu trong nhà. Tiền chợ là nguồn tiền mặt quan trọng của gia đình nông dân, ngoài vụ lúa.

Ca dao còn giữ hình ảnh người phụ nữ với chợ qua nhiều câu, có câu trêu đùa như “Đi chợ thì hay ăn quà, chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm”, có câu thương cảm cho người buôn gánh lặn lội. Những câu ấy cho thấy chợ vừa là nơi kiếm sống, vừa là khoảng không gian hiếm hoi người phụ nữ nông thôn rời nhà, gặp gỡ, trò chuyện.

Chợ cũng là kênh tin tức của làng. Giá thóc lên xuống, nhà ai cưới hỏi, làng bên mất mùa, đường nào ngập, tất cả lan qua chợ nhanh hơn mọi thông báo. Người buôn bán giỏi ngày xưa thường là người nghe giỏi: họ biết hàng gì sắp hiếm, mùa nào sắp tới, ai đang cần gì.

Hiểu vai trò này giúp ta đọc lại nhiều tục lệ quanh chợ không phải như mê tín, mà như cách những người buôn nhỏ, phần đông là phụ nữ, tự giữ nhịp làm ăn và giữ quan hệ với nhau trong một cộng đồng nhỏ, nơi mọi người biết mặt nhau.

Chợ làng hôm nay: giữ gì, bỏ gì

Nhiều chợ làng đã thành chợ kiên cố có mái, có ban quản lý, có quầy đánh số. Cái vỏ đổi nhưng nhiều nếp cũ vẫn còn. Dưới đây là gợi ý cho tiểu thương đang bán ở chợ truyền thống, nhìn qua lệ chợ xưa:

  • Giữ nếp ngồi theo dãy hàng và tôn trọng chỗ của người quen; nay thì có hợp đồng thuê sạp, nhưng hoà khí với sạp bên vẫn là vốn quý.
  • Giữ cân đủ, nói thật về hàng: khách chợ truyền thống phần lớn là khách quen, mất một lần là mất lâu.
  • Giữ thói quen nghe ngóng: hỏi khách cần gì, ghi lại những thứ khách hỏi mà mình chưa có.
  • Bỏ việc lấn lối đi, bày hàng tràn ra lối thoát; chợ đông người, lối đi thông là chuyện an toàn, không chỉ chuyện đẹp.
  • Bỏ việc câu điện, đun nấu tuỳ tiện trong sạp; cháy chợ là nỗi sợ lớn của tiểu thương, và quy định phòng cháy của chợ cần được làm theo nghiêm túc.
  • Bỏ thói nói thách quá đà với khách lạ; chợ quê nay có cả khách du lịch, ấn tượng xấu lan nhanh trên mạng.
  • Nếu chợ của bạn có nét xưa (gốc đa, đình chợ, phiên đặc biệt), giữ gìn những nét đó cũng là giữ lý do để khách tìm đến.

Chợ làng tồn tại hàng trăm năm vì nó có lệ, và lệ ấy chủ yếu xoay quanh sự công bằng và hoà khí. Đó là phần đáng mang theo nhất khi chợ đổi mái.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao chợ làng thường họp gần đình hoặc dưới gốc đa?

Đình là trung tâm sinh hoạt của làng, có sân rộng và là nơi ai cũng biết. Gốc đa cho bóng mát và làm mốc hẹn. Đặt chợ ở đó giúp người làng và người làng bên dễ tìm, dễ tụ họp, lại tận dụng được khoảng đất chung của làng mà không lấn vào đất ruộng.

Người bán ở chợ làng xưa có phải nộp tiền không?

Theo nhiều mô tả về làng xã xưa, người bán thường nộp một khoản nhỏ cho chỗ ngồi, về quỹ chung của làng; có nơi làng giao cho người nhận khoán thu. Mức thu và cách thu khác nhau giữa các làng, các thời kỳ, nên không có một con số chung.

Câu “nhất cận thị, nhị cận giang” nghĩa là gì?

Câu này ý nói nơi ở hay nơi làm ăn tốt nhất là gần chợ, thứ nhì là gần sông. Gần chợ thì tiện mua bán, gần sông thì tiện chở hàng bằng thuyền. Đây là kinh nghiệm thực tế về giao thương, không phải lời phán về vận may của một mảnh đất.

Một cân ta là bao nhiêu lạng?

Một cân ta bằng mười sáu lạng, vì thế mới có câu “kẻ tám lạng, người nửa cân” để nói hai bên ngang ngửa nhau. Khối lượng quy ra gam của cân ta có thay đổi theo thời kỳ, nên khi đọc sách cũ bạn nên xem chú thích của người biên soạn.

Chợ chiều nghĩa là gì?

Nghĩa đen là chợ lúc gần tan, khi hàng tươi được bán hạ giá cho kịp hết và người đã thưa. Về sau cụm từ này được dùng theo nghĩa bóng để chỉ những gì đã qua lúc đông vui, thịnh vượng. Với người buôn bán, chợ chiều là lúc xả hàng, không phải điềm xấu.

Tiểu thương ở chợ truyền thống nay cần lưu ý gì về an toàn?

Nên giữ lối đi và lối thoát thông thoáng, không câu điện hay đun nấu tuỳ tiện trong sạp, để bình chữa cháy ở chỗ dễ lấy và làm theo nội quy phòng cháy của ban quản lý chợ. Khi có thắc mắc về quy định, hãy hỏi trực tiếp ban quản lý hoặc cơ quan phòng cháy địa phương.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183