ThinhLoc.comThịnh Lộc
Chợ, phố nghề và thương nhân Việt xưa

Các thương cảng xưa của Việt Nam: Vân Đồn, Phố Hiến, Thanh Hà, Hà Tiên

Vân Đồn, Phố Hiến, Thanh Hà, Hà Tiên từng là nơi thuyền buôn nhiều nước ghé đến. Vì sao các thương cảng xưa ra đời ở đó, buôn bán gì và vì sao lụi tàn.

Misty morning across a calm bay dotted with limestone islands near Van Don in Quang Ninh, a small wooden boat in the foreground, rower seen from behind

Trước khi có các cảng biển hiện đại, Việt Nam từng có nhiều thương cảng nơi thuyền buôn trong nước và nước ngoài tụ về: Vân Đồn ở vùng biển Đông Bắc từ thời Lý, Phố Hiến bên sông Hồng thế kỷ 17, Thanh Hà gần Phú Xuân thời các chúa Nguyễn, Hà Tiên ở cực tây nam từ đầu thế kỷ 18, cùng Hội An và Cù lao Phố. Mỗi cảng ra đời vì một lý do địa lý hay chính sách, và hầu hết lụi đi khi dòng sông đổi, chiến tranh xảy ra hay chính sách thay đổi.

Bài này đi qua từng thương cảng ở mức những điều sử sách và giới nghiên cứu nhắc phổ biến, rồi đặt chúng cạnh nhau để thấy những quy luật chung. Hội An và Chợ Lớn là những đề tài lớn hơn nên chỉ được nhắc ngắn ở đây. Những mốc năm chưa thống nhất giữa các tài liệu sẽ được ghi là khoảng.

Thương cảng xưa là gì và vì sao triều đình cần chúng

Thương cảng, hay cảng thị, là nơi thuyền buôn được phép cập bến, giao dịch, nộp thuế và lưu trú. Với các triều đại phong kiến Việt Nam, ngoại thương vừa mang lại nguồn thu, hàng hoá quý, vừa là mối lo về an ninh, nên triều đình thường muốn gom thuyền buôn nước ngoài về một vài nơi nhất định để dễ quản lý, thay vì để họ vào sâu tận kinh đô.

Vì vậy vị trí của thương cảng là sự cân đối giữa hai mong muốn: đủ gần nguồn hàng và thị trường để buôn bán được, đủ xa trung tâm quyền lực để kiểm soát được. Một cảng ở cửa sông, trên đảo, hay ở trạm trung chuyển trên đường vào kinh thành thường đáp ứng được cả hai.

Bên cạnh đó là điều kiện tự nhiên: bến kín gió, luồng đủ sâu cho thuyền buồm, gần nguồn nước ngọt, nằm trên tuyến gió mùa mà thuyền buôn khu vực quen đi. Khi một trong những điều kiện ấy mất đi, chẳng hạn luồng sông bồi lắng, cảng có thể suy tàn rất nhanh dù từng sầm uất.

Vân Đồn: thương cảng trên đảo từ thời Lý

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, năm 1149 đời vua Lý Anh Tông, thuyền buôn của một số nước phương Nam đến vùng Hải Đông xin cư trú buôn bán, triều đình cho lập trang ở hải đảo gọi là Vân Đồn để họ mua bán. Mốc này thường được coi là sự khởi đầu của thương cảng Vân Đồn, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Vân Đồn không phải một bến duy nhất mà là một vùng gồm nhiều bến trên các đảo trong vịnh, nơi thuyền buôn có thể neo tránh gió. Hàng hoá trao đổi được nhắc nhiều là gốm sứ, ngọc trai, sản vật biển, lâm sản. Các cuộc khảo cổ trong vùng đã tìm thấy nhiều mảnh gốm sứ thuộc nhiều thời kỳ và nhiều nguồn gốc khác nhau, cho thấy hoạt động buôn bán kéo dài qua nhiều thế kỷ.

Vùng biển Vân Đồn cũng gắn với lịch sử quân sự: trận đánh của Trần Khánh Dư vào đoàn thuyền lương của quân Nguyên trong cuộc kháng chiến lần thứ ba là sự kiện được nhắc nhiều. Điều đó cho thấy Vân Đồn vừa là cửa ngõ buôn bán vừa là tiền tiêu trên biển, một vị trí mà triều đình luôn để mắt tới.

Vân Đồn hoạt động qua thời Trần, thời Lê rồi dần nhường vai trò cho những cảng khác. Ngày nay tên Vân Đồn được nhắc lại trong bối cảnh phát triển kinh tế biển của Quảng Ninh, nhưng thương cảng cổ chủ yếu còn lại qua sử sách và di chỉ khảo cổ.

Phố Hiến: “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”

Câu “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến” cho thấy vị thế của Phố Hiến vào thế kỷ 17: sau kinh thành Thăng Long, đây là đô thị buôn bán sầm uất nhất Đàng Ngoài. Phố Hiến nằm bên sông Hồng, trên đường thuyền từ biển vào Thăng Long, nay thuộc tỉnh Hưng Yên sau khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025.

Một cách giải thích thường gặp là thuyền buôn nước ngoài khi ngược sông Hồng lên Thăng Long phải dừng ở khu vực Phố Hiến để khai báo, chờ phép. Thời gian chờ ấy biến nơi đây thành chỗ tụ tập của thương nhân Hoa, Nhật và các thương nhân phương Tây. Nhiều tài liệu nhắc đến việc người Hà Lan và người Anh từng có thương điếm ở Đàng Ngoài, trong đó có ở Phố Hiến, trong thế kỷ 17.

Phố Hiến có các khu phố của người Hoa, các đền, chùa, hội quán, chợ và bến thuyền dọc sông. Hàng hoá qua đây gồm tơ lụa, gốm sứ, lâm sản, kim loại và hàng thủ công của các làng nghề đồng bằng Bắc Bộ.

Đến thế kỷ 18, Phố Hiến suy dần. Lý do thường được nêu là dòng sông Hồng thay đổi và bồi lắng khiến thuyền khó vào bến, cùng với sự thay đổi trong chính sách ngoại thương và sự suy giảm của buôn bán với phương Tây ở Đàng Ngoài. Ngày nay ở Hưng Yên vẫn còn nhiều di tích gắn với Phố Hiến xưa.

Thanh Hà, Cù lao Phố và Hà Tiên: những cảng thị phía nam

Thanh Hà là một phố cảng trên sông Hương gần Phú Xuân (Huế), hình thành dưới thời các chúa Nguyễn với vai trò lớn của thương nhân người Hoa. Khi Phú Xuân trở thành trung tâm chính trị của Đàng Trong, Thanh Hà là nơi thuyền buôn đưa hàng đến phục vụ kinh thành. Về sau, khi sông bồi và nhu cầu thay đổi, vai trò buôn bán chuyển dần sang phố Bao Vinh gần đó.

Cù lao Phố trên sông Đồng Nai là cảng thị do nhóm người Hoa của Trần Thượng Xuyên cùng người Việt xây dựng từ cuối thế kỷ 17. Cảng phát triển mạnh trong thế kỷ 18 trước khi bị tàn phá trong chiến tranh cuối thập niên 1770; nhiều thương nhân rời đi, góp phần hình thành khu Chợ Lớn.

Hà Tiên gắn với Mạc Cửu, người gốc Quảng Đông đến khai phá vùng đất này từ cuối thế kỷ 17 và quy phụ chúa Nguyễn vào đầu thế kỷ 18. Dưới thời Mạc Cửu và con trai Mạc Thiên Tích, Hà Tiên trở thành một thương cảng mở cho thuyền nhiều nước, đồng thời là một trung tâm văn hoá với nhóm thơ Chiêu Anh Các và chùm thơ vịnh “Hà Tiên thập cảnh”. Hà Tiên ngày nay thuộc tỉnh An Giang sau khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025.

Cả ba cảng đều cho thấy vai trò của cộng đồng người Hoa di cư trong buôn bán ở Đàng Trong, và cho thấy chính quyền chúa Nguyễn dùng thương cảng như công cụ khai phá, giữ đất và tạo nguồn thu ở vùng mới.

Đặt các thương cảng cạnh nhau

Bảng dưới tóm tắt các thương cảng đã nhắc ở mức khái quát, để thấy những điểm chung về vị trí và lý do suy tàn. Thời kỳ hưng thịnh ghi theo thế kỷ, vì mốc cụ thể còn được bàn.

Thương cảngThời kỳ sầm uấtVị trí nayLý do suy giảm thường được nêu
Vân ĐồnTừ thời Lý, kéo dài qua Trần, LêQuảng NinhTrung tâm buôn bán dịch chuyển sang nơi khác
Phố HiếnThế kỷ 17Hưng YênSông đổi dòng, bồi lắng; chính sách ngoại thương thay đổi
Hội AnThế kỷ 17–18Đà NẵngChiến tranh, cửa sông bồi, Đà Nẵng thay thế
Thanh HàThế kỷ 17–18HuếSông bồi, vai trò chuyển sang Bao Vinh
Cù lao PhốCuối thế kỷ 17 đến thập niên 1770Đồng NaiBị tàn phá trong chiến tranh
Hà TiênThế kỷ 18An GiangChiến tranh trong vùng, trung tâm buôn bán dịch về Sài Gòn

Điểm chung dễ thấy: thương cảng nào cũng nằm ở cửa sông, ven biển hoặc trên đảo, và phụ thuộc chặt vào dòng chảy, chiến tranh và chính sách. Không cảng nào suy tàn chỉ vì người buôn bán kém; chúng lụi đi khi những điều kiện lớn xung quanh đổi khác.

Đọc dấu vết thương cảng còn lại

Phần lớn thương cảng xưa không còn bến thuyền, nhưng dấu vết buôn bán vẫn nằm trong cảnh quan, tên đất và di tích. Khi đến những nơi này, vài điều giúp bạn nhận ra một cảng thị cũ:

  • Tên đất gợi chuyện buôn bán. Những chữ như phố, bến, chợ, cầu, kho trong tên làng, tên phường thường là dấu hiệu của một thời thuyền buôn tụ về.
  • Đền chùa, hội quán của nhiều cộng đồng đứng gần nhau. Ở Phố Hiến, Hội An hay Hà Tiên, sự có mặt của nơi thờ tự người Hoa cạnh đình chùa người Việt cho thấy một cộng đồng thương nhân đa dạng.
  • Dòng sông đã lùi xa. Nhiều di tích từng nằm sát bến nay cách bờ sông khá xa, dấu hiệu dòng chảy đổi hướng, bồi lắng, đúng lý do khiến cảng suy tàn.
  • Mảnh gốm trong đất. Các di chỉ khảo cổ ở vùng thương cảng thường có nhiều mảnh gốm sứ từ nhiều nơi. Nếu bạn thấy những mảnh này ở bãi bồi, nên để nguyên và báo cho cơ quan văn hoá địa phương, không tự đào bới hay mang về.
  • Nghề còn lại. Một số làng quanh thương cảng cũ vẫn giữ nghề từng phục vụ buôn bán, như đóng thuyền, làm gốm, chế biến hải sản.

Đọc như vậy, một chuyến tham quan di tích trở thành một chuyến đọc lịch sử buôn bán của cả một vùng.

Thương cảng xưa nói gì với người buôn bán hôm nay

Vị trí tốt không cố định mãi. Một bến sầm uất có thể vắng khi luồng sông đổi. Một con phố đông khách hôm nay có thể vắng khi đường mới mở. Người buôn lâu năm luôn để ý dòng khách đang dịch về đâu.

Chính sách quyết định rất nhiều. Từ phố Nhật ở Hội An đến Phố Hiến, quyết định của triều đình hay của nước khác có thể mở hoặc đóng cả một thị trường. Hôm nay cũng vậy: quy hoạch, quy định về thuế, xuất nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến cửa hàng nhỏ.

Đa dạng khách là cách chịu sóng. Thương cảng nào chỉ dựa vào một nhóm thương nhân thì yếu khi nhóm đó rút đi. Một cửa hàng chỉ sống nhờ một nhóm khách cũng dễ chao đảo.

Tổ chức cộng đồng giúp đi xa. Thương nhân xa quê dựa vào hội quán, bang, đồng hương. Người buôn hôm nay dựa vào hiệp hội ngành, nhóm bạn hàng, chợ đầu mối có tổ chức.

Uy tín đi theo người, không theo bến. Nhiều gia đình buôn bán rời một cảng tàn để lập nghiệp ở nơi mới và vẫn thành công, vì họ mang theo mối quan hệ và chữ tín.

Câu hỏi thường gặp

Thương cảng Vân Đồn được lập năm nào?

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, năm 1149 dưới triều vua Lý Anh Tông, triều đình cho lập trang ở hải đảo Vân Đồn để thuyền buôn nước ngoài cư trú, buôn bán. Mốc này thường được coi là sự khởi đầu của thương cảng Vân Đồn ở vùng biển Quảng Ninh ngày nay.

Câu “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến” nghĩa là gì?

Câu này nói về thứ hạng sầm uất của các đô thị Đàng Ngoài vào khoảng thế kỷ 17: đứng đầu là kinh thành Thăng Long, thứ hai là Phố Hiến bên sông Hồng. Nó phản ánh vai trò của Phố Hiến như điểm dừng của thuyền buôn trên đường lên kinh đô.

Phố Hiến nay ở đâu?

Phố Hiến nằm ở khu vực thành phố Hưng Yên cũ, bên sông Hồng. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, khu vực này thuộc tỉnh Hưng Yên mới. Ở đây còn nhiều di tích như đền, chùa, hội quán gắn với thời kỳ phố cảng sầm uất.

Mạc Cửu là ai?

Mạc Cửu là người gốc Quảng Đông, đến khai phá vùng Hà Tiên từ cuối thế kỷ 17 và quy phụ chúa Nguyễn vào đầu thế kỷ 18. Dưới thời ông và con trai Mạc Thiên Tích, Hà Tiên phát triển thành một thương cảng và trung tâm văn hoá ở vùng cực tây nam.

Vì sao nhiều thương cảng xưa nằm ở cửa sông?

Cửa sông vừa cho thuyền biển vào neo đậu kín gió, vừa nối với đường sông dẫn vào vùng sản xuất hàng hoá trong đất liền. Thuyền buôn đưa hàng ngoại vào, thuyền sông đưa hàng trong xứ ra. Nhược điểm là sông hay bồi lắng, đổi dòng, khiến nhiều cảng suy tàn.

Có thể tham quan dấu tích các thương cảng này không?

Có. Phố Hiến ở Hưng Yên còn nhiều đền chùa, hội quán; Hội An còn nguyên phố cổ; Hà Tiên có các di tích gắn với họ Mạc; vùng Vân Đồn có các di chỉ khảo cổ. Khi tham quan di tích thờ tự, bạn nên ăn mặc kín đáo và theo hướng dẫn của ban quản lý.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183