Tổ nghề là người được một nghề, một làng nghề hay một phường thợ tôn làm người đầu tiên đem nghề về, dạy nghề hoặc sáng lập ra nghề. Thờ tổ nghề là cách người làm nghề tỏ lòng biết ơn người đi trước, theo tinh thần "uống nước nhớ nguồn", đồng thời là sợi dây gắn những người cùng nghề lại với nhau.
Ở Việt Nam, gần như nghề thủ công nào có bề dày cũng có một vị tổ: thợ gốm, thợ bạc, thợ thêu, thợ mộc, thợ đúc đồng, thợ khắc ván in, cả nghệ sĩ sân khấu. Bài này giải thích tục thờ tổ nghề từ đâu ra, tổ nghề khác các vị thần khác thế nào, vì sao một nghề lại có nhiều truyền thuyết về tổ, và tục này còn ý nghĩa gì với một tiệm, một xưởng hôm nay.
Tổ nghề, tiên sư, tổ sư: mấy cách gọi cùng một ý
Trong sách phong tục và trong lời ăn tiếng nói của làng nghề, người truyền nghề được gọi bằng nhiều tên. Phổ biến nhất là "tổ nghề" hay "ông tổ nghề". Ở nhiều nơi, người ta gọi trang trọng hơn là "tiên sư", nghĩa là người thầy đi trước; ngôi đình hay ngôi đền nhỏ thờ tổ vì thế có chỗ gọi là đền Tiên sư. Trong giới sân khấu và võ nghệ, chữ "tổ sư" hay "Đức Tổ" quen tai hơn.
Dù gọi thế nào, ý chung vẫn là một: có một người, hay một nhóm người, đã mở ra con đường nghề mà những người đến sau đang đi. Người đó có thể là nhân vật lịch sử có tên trong sử sách, có thể là một người dân trong làng mà chỉ còn lại cái tên trong gia phả, cũng có thể là một nhân vật truyền thuyết mà không ai chứng minh được có thật hay không.
Điểm đáng chú ý là tổ nghề thường được thờ ở cấp nghề, không phải cấp gia đình. Một gia đình thờ ông bà tổ tiên của nhà mình; còn tổ nghề là "tổ tiên" của cả một cộng đồng làm cùng một việc, bất kể họ thuộc dòng họ nào. Đây là lý do vì sao ở các phố nghề cũ, người cùng phường dù khác họ vẫn góp tiền dựng chung một nơi thờ tổ.
Tục thờ tổ nghề hình thành từ đâu
Không có văn bản nào ghi tục thờ tổ nghề bắt đầu từ năm nào. Có thể hình dung nó lớn lên cùng làng nghề và phường thợ. Khi một nghề đã nuôi sống được cả làng qua nhiều đời, người trong làng muốn ghi nhớ người đem nghề về. Cách ghi nhớ quen thuộc nhất của người Việt là thờ cúng, như cách họ vẫn thờ ông bà, nên người truyền nghề dần được đặt lên bàn thờ chung.
Một lớp nghĩa khác đến từ tổ chức phường hội. Ở Thăng Long xưa, thợ từ các làng nghề lên kinh làm ăn thường ở tụ lại theo nghề, lập thành phường. Phường cần một nơi họp, một ngày gặp nhau, một lệ chung để chia việc và giữ phép. Nơi thờ tổ trở thành trụ sở của phường, ngày giỗ tổ trở thành ngày họp phường. Tín ngưỡng và tổ chức nghề nghiệp đan vào nhau, khó tách riêng.
Lớp nghĩa thứ ba là tâm lý nghề nghiệp. Làm gốm thì lò có thể hỏng cả mẻ, đúc đồng thì khuôn có thể nứt, đi diễn thì có thể quên lời giữa chừng. Trước những rủi ro mà tay nghề không kiểm soát hết, người thợ tìm một chỗ dựa tinh thần. Thắp nén hương cho tổ trước khi nhóm lò hay trước giờ mở màn là cách nhiều người trấn tĩnh mình, theo quan niệm dân gian là xin tổ phù hộ cho việc trôi chảy.
Một số tổ nghề thường được nhắc ở miền Bắc
Bảng dưới gom những vị tổ nghề được nhắc nhiều trong sách về làng nghề và trong lời kể của chính các làng. Phần lớn là truyền thuyết hoặc truyền thống của làng, nhiều chỗ có hơn một dị bản, nên bảng chỉ ghi ở mức phổ biến nhất.
| Nghề | Người được tôn là tổ (theo truyền thống) | Nơi thờ thường được nhắc |
|---|---|---|
| Gốm sứ | Ba vị khoa bảng thời Lý được kể đã học nghề gốm khi đi sứ | Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh) |
| Thêu, làm lọng | Lê Công Hành, tên thật được nhiều tài liệu ghi là Trần Quốc Khái | Làng Quất Động (Hà Nội) |
| Kim hoàn, đúc bạc | Lưu Xuân Tín, người làng Châu Khê | Đình Kim Ngân, phố Hàng Bạc (Hà Nội) |
| Khắc ván in | Thám hoa Lương Như Hộc | Làng Liễu Tràng, Hồng Lục (vùng Hải Dương cũ, nay thuộc Hải Phòng) |
| Đúc đồng | Nguyễn Minh Không, vị thiền sư thời Lý theo truyền thuyết | Các làng đúc đồng, trong đó có Ngũ Xã (Hà Nội) |
| Chèo | Bà Phạm Thị Trân, tương truyền sống thời Đinh | Vùng Ninh Bình |
| Mộc, xây dựng | Lỗ Ban, nhân vật thợ khéo trong sử truyện Trung Hoa | Bàn thờ trong xưởng, nhiều làng mộc thờ thêm tổ riêng |
Bảng này không đầy đủ và không phải là "danh sách chuẩn". Nhiều làng làm cùng một nghề nhưng thờ những vị tổ khác nhau, vì mỗi làng nhớ người đã trực tiếp đem nghề về làng mình. Muốn biết chắc một làng thờ ai, cách tốt nhất là hỏi ban quản lý di tích của làng hoặc xem thần phả, bia đá còn giữ lại.
Vì sao một nghề lại có nhiều ông tổ
Mỗi làng nhớ người của làng mình. Một nghề có thể xuất hiện ở nhiều nơi cùng lúc hoặc lan dần qua nhiều đời. Làng nào cũng ghi công người đầu tiên đem nghề đến làng đó, nên cùng là nghề gốm hay nghề bạc mà mỗi làng thờ một vị khác.
Truyền thuyết được kể lại qua nhiều thế hệ. Phần lớn câu chuyện về tổ nghề được truyền miệng trước khi được ghi vào thần phả hay gia phả. Qua mỗi lần kể, tên người, năm tháng, quê quán có thể thay đổi, nên hôm nay ta gặp nhiều dị bản cho cùng một vị tổ.
Có tổ "khởi nghề" và tổ "đem nghề về". Trong một số nghề, người ta phân biệt người được coi là sáng lập ra nghề, thường là nhân vật xa xưa hoặc truyền thuyết, với người cụ thể đã học nghề rồi truyền cho làng. Cả hai đều có thể được thờ, có nơi thờ chung trong một điện.
Ảnh hưởng của văn hoá Hoa. Nhiều nghề du nhập qua giao lưu với phương Bắc, nên người thợ Việt tiếp nhận luôn vị tổ mà thợ người Hoa vẫn thờ, như Lỗ Ban của thợ mộc. Bên cạnh đó, làng Việt vẫn giữ vị tổ riêng của mình, tạo thành hai lớp thờ song song.
Tổ nghề khác Thành hoàng, Thần Tài ra sao
Thành hoàng là vị thần bảo hộ cho cả làng, được thờ ở đình làng, lo cho mọi việc của cộng đồng chứ không riêng một nghề. Tuy vậy ở nhiều làng nghề, người có công đem nghề về được tôn luôn làm Thành hoàng, nên đình làng vừa thờ thần bảo hộ vừa thờ tổ nghề. Đây là chỗ hay gây nhầm: người ngoài thấy làng gốm thờ tổ gốm ở đình và tưởng tổ nghề bao giờ cũng là Thành hoàng, trong khi ở làng khác hai vị được thờ ở hai nơi riêng.
Thần Tài, Ông Địa thì thuộc một lớp tín ngưỡng khác. Đó là những vị được người buôn bán thờ với mong muốn chung về sự hanh thông trong làm ăn, không gắn với một nghề cụ thể và không phải người dạy nghề. Một tiệm vàng có thể vừa thờ Thần Tài theo nếp buôn bán, vừa có chỗ thắp hương cho tổ nghề kim hoàn theo nếp của người thợ. Hai bàn thờ mang hai ý khác nhau.
Phân biệt như vậy giúp hiểu đúng tâm thế của người thờ. Thắp hương cho tổ nghề trước hết là nhớ ơn người dạy và giữ lề lối nghề, chứ không mang ý cầu xin của cải. Chính vì thế, ở nhiều xưởng lâu đời, bàn thờ tổ thường giản dị, không cầu kỳ đồ thờ, và người ta coi việc làm ra sản phẩm tử tế mới là cách tri ân tổ đúng nhất.
Người buôn bán có tổ nghề không
Với thợ thủ công, chuyện tổ nghề khá rõ ràng. Với người buôn bán thuần tuý thì khác. Ở phần lớn chợ và phố buôn của người Việt, không có một vị tổ chung được cả giới buôn bán thờ như tổ của một nghề thủ công. Người bán hàng thường thờ Thần Tài, Ông Địa, hoặc vị thần được thờ ở ngôi đình, ngôi miếu gần chợ, thay vì một người dạy nghề buôn.
Tuy vậy, khi buôn bán gắn với một nghề cụ thể, tổ nghề vẫn có mặt. Người bán vàng bạc ở phố Hàng Bạc xưa vừa là thương nhân vừa là thợ, nên thờ tổ nghề kim hoàn. Người buôn tơ lụa ở các làng dệt thờ tổ nghề dệt của làng. Nghĩa là tổ nghề của người buôn bán thường đi theo mặt hàng họ buôn và theo gốc làng nghề của họ.
Thương nhân người Hoa ở Hội An, Chợ Lớn lại có lối riêng: họ tụ họp ở hội quán theo quê gốc, thờ các vị như Quan Công, Thiên Hậu, và trong một số bang hội có chỗ thờ vị tổ của ngành hàng. Muốn hiểu kỹ lớp tín ngưỡng này, bạn có thể đọc thêm phần về tín ngưỡng cầu tài trên trang này, nơi các vị thần đó được bàn ở góc lịch sử.
Tục thờ tổ nghề còn ý nghĩa gì hôm nay
Nhiều làng nghề hôm nay vẫn giữ lễ giỗ tổ hằng năm, có làng còn phục dựng lễ hội, đưa vào lịch du lịch. Ở thành phố, không ít tiệm may, tiệm tóc, xưởng mộc, đoàn nghệ thuật vẫn có một góc thắp hương cho tổ. Tục này sống được vì nó đáp ứng vài nhu cầu thật, không chỉ vì thói quen.
Thứ nhất, nó giữ trí nhớ về nguồn gốc nghề. Một người thợ trẻ biết tên vị tổ, biết làng mình học nghề từ đâu, sẽ hiểu rằng tay nghề mình đang cầm là kết quả của nhiều đời tích luỹ. Thứ hai, nó tạo ra một dịp gặp gỡ. Ngày giỗ tổ là ngày thầy trò, thợ cũ thợ mới, chủ xưởng và bạn hàng ngồi lại với nhau. Thứ ba, nó giữ một chuẩn mực nghề: nhiều lời dạy về sự trung thực, về chất lượng hàng được gắn với tổ, kiểu "làm dối là phụ lòng tổ".
Cũng cần nói thẳng: tục thờ tổ không bắt buộc, và việc không thờ không làm ai kém tay nghề hay kém may. Nếu xưởng của bạn muốn giữ, hãy giữ ở mức gọn gàng, an toàn hương khói, và dành phần lớn ý nghĩa cho việc kể lại câu chuyện nghề cho người trẻ. Còn nếu bạn tìm hiểu vì yêu văn hoá, tổ nghề là một cửa vào rất hay để hiểu lịch sử kinh tế, xã hội của làng quê Việt.
Câu hỏi thường gặp
Tổ nghề có phải là người có thật không?
Có vị là nhân vật lịch sử có tên trong sử sách hoặc bia đá, có vị chỉ còn trong truyền thuyết của làng. Nhiều câu chuyện pha trộn cả hai: tên người có thật nhưng chi tiết ly kỳ được thêm qua nhiều đời kể. Khi đọc, nên coi đó là truyền thống của làng hơn là tư liệu lịch sử đã kiểm chứng.
Nghề mới như sửa điện thoại, thiết kế có tổ nghề không?
Những nghề mới xuất hiện gần đây thường không có tổ theo nghĩa truyền thống, vì tục thờ tổ gắn với làng nghề và phường hội nhiều đời. Một số người làm nghề mới tự chọn tưởng nhớ người thầy đầu tiên của mình, nhưng đó là lựa chọn cá nhân, không phải tục lệ chung.
Không thờ tổ nghề thì có sao không?
Không có gì bắt buộc. Thờ tổ là một nếp văn hoá để nhớ ơn và gắn kết người cùng nghề. Nhiều người giữ ý nghĩa ấy bằng cách khác như kể chuyện nghề cho học trò, giữ lề lối làm hàng tử tế, đến thăm làng nghề gốc vào dịp giỗ tổ.
Tổ nghề và Thành hoàng làng có giống nhau không?
Không hẳn. Thành hoàng là vị thần bảo hộ cả làng, còn tổ nghề là người truyền nghề. Ở một số làng nghề, tổ nghề được tôn luôn làm Thành hoàng nên hai vai trùng nhau, nhưng ở nhiều làng khác hai vị được thờ riêng ở hai nơi.
Muốn biết làng mình thờ tổ nghề nào thì hỏi ở đâu?
Bạn có thể hỏi các cụ cao tuổi trong làng, ban quản lý đình, đền hoặc người giữ thần phả. Bia đá, câu đối, sắc phong còn giữ ở di tích cũng là nguồn quan trọng. Nếu làng đã có hồ sơ di tích được xếp hạng, hồ sơ đó thường ghi khá rõ.
Có nên thờ cùng lúc tổ nghề và Thần Tài trong tiệm không?
Nhiều tiệm vẫn làm vậy vì hai nơi thờ mang hai ý khác nhau: một bên nhớ người dạy nghề, một bên theo nếp buôn bán. Điều nên lưu ý là giữ không gian gọn, không để hương khói gần vật dễ cháy, và không biến góc thờ thành nơi bày quá nhiều đồ.